ĐÊM THÁNH VÔ CÙNG – NGUỒN GỐC VÀ HIỆN TƯỢNG
✧ Stille Nacht (Silent Night) – Điều kỳ diệu của lòng người
Đại chiến thế giới thứ nhất bắt đầu nổ ra vào mùa hè năm 1914 và kéo dài đến khi mùa đông tới, phủ tuyết dày lên mặt trận. Hai chiến tuyến vốn chỉ cách nhau chưa đầy 50 mét: một bên là phe Đồng Minh, bên kia là quân Đức. Trong cái lạnh buốt, mưa tuyết và bùn lầy, những người lính luôn trong tâm trạng nơm nớp lo sợ...
Hôm ấy là đêm Giáng sinh năm 1914, binh nhì Albert Moren thuộc Trung đoàn Second Queens đã nhớ lại cảnh tượng diễn ra gần làng La Chapelle d'Armentières của Pháp như sau:
It was a beautiful moonlit night, frost on the ground, white almost everywhere; and about 7 or 8 in the evening there was a lot of commotion in the German trenches and there were these lights – I don’t know what they were. And then they sang “Silent Night” – “Stille Nacht.” I shall never forget it, it was one of the highlights of my life. I thought, what a beautiful tune.
Hôm ấy là một đêm trăng sáng đẹp, sương giá phủ trắng khắp cả vùng. Vào khoảng 7 hay 8 giờ tối, một loạt chuyển động nhìn thấy xảy ra bên chiến hào quân Đức và có nhiều ánh đèn lóe sáng – tôi vẫn chưa biết đó là gì. Thế rồi một lúc sau, họ hát vang bài “Đêm Yên Lành” – “Stille Nacht.” Tôi chắc chắn sẽ chẳng bao giờ quên được cảnh tượng ấy, một trong những cảnh tượng đẹp nhất cuộc đời tôi. Trong đầu tôi lúc ấy bài thánh ca mang một giai điệu đẹp tuyệt trần.
Stille Nacht (Silent Night)
Đối với những người lính lúc bấy giờ ước chừng 100 nghìn quân đồng Minh chủ lực là Anh, Pháp và Bỉ, thì đêm Giáng sinh hôm ấy là một đêm đậm tình người vì bài hát đã mở đường để cả hai bên thù nghịch cùng lần lượt hát nối tiếp nhau các bài Giáng sinh vui mừng chúc lành nhau ngay giữa tử địa. Bài hát cất vang giúp cho cả quân Đức và Đồng Minh mạnh dạn cùng nói lên mong ước ngưng tiếng súng. Bài Thánh ca đã cho họ sức mạnh bất chấp lệnh trên để cùng nắm tay nhau thỏa thuận ngưng chiến tạm thời (Christmas Truce) để mừng Giáng Sinh ngự trị vào lòng nhắc nhở nhau một tình yêu thương; và họ đã đồng lòng buông súng để chúc tụng vui chơi trong đêm Giáng Sinh, biểu tượng của Tình Yêu! (Christmas – The symbol of Love).
♪ BẢNG DỊCH QUA CÁC NGÔN NGỮ
The Christmas Truce
1. Stille Nacht! Heil’ge Nacht!
Alles schläft, Einsam wacht
Nur das traute heilige Paar.
Holder Knab’ im lockigten Haar;
Schlafe in himmlischer Ruh!
Schlafe in himmlischer Ruh!
2. Stille Nacht! Heil’ge Nacht!
Gottes Sohn, O! wie lacht
Lieb’ aus Deinem göttlichen Mund,
Da schlägt uns die rettende Stund;
Jesus! in deiner Geburth!
Jesus! in deiner Geburth!
3. Stille Nacht! Heil’ge Nacht!
Die der Welt Heil gebracht,
Aus des Himmels goldenen Höh’n
Uns der Gnaden Fülle läßt seh’n:
Jesum in Menschengestalt!
Jesum in Menschengestalt!
4. Stille Nacht! Heil’ge Nacht!
Wo sich heut alle Macht
Väterlicher Liebe ergoß
Und als Bruder Huldvoll umschloß
Jesus die Völker der Welt!
Jesus die Völker der Welt!
5. Stille Nacht! Heil’ge Nacht!
Lange schon uns bedacht,
Als der Herr vom Grimme befreyt,
In der Väter urgrauer Zeit
Aller Welt Schonung verhieß!
Aller Welt Schonung verhieß!
6. Stille Nacht! Heil’ge Nacht!
Hirten erst kundgemacht
Durch der Engel “Hallelujah!”,
Tönt es laut bey Ferne und Nah:
“Jesus der Retter ist da!”
“Jesus der Retter ist da!”
1. Silent night! Holy night!
All’s asleep, one sole light,
Just the faithful and holy pair,
Lovely boy-child with curly hair,
Sleep in heavenly peace!
Sleep in heavenly peace!
2. Silent night! Holy night!
God’s Son laughs, o how bright.
Love from your holy lips shines clear,
As the dawn of salvation draws near,
Jesus, Lord, with your birth!
Jesus, Lord, with your birth!
3. Silent night! Holy night!
Brought the world peace tonight,
From the heavens’ golden height
Shows the grace of His holy might
Jesus, as man on this earth!
Jesus, as man on this earth!
4. Silent night! Holy night!
Where today all the might
Of His fatherly love us graced
And then Jesus, as brother, embraced
All the peoples on earth!
All the peoples on earth!
5. Silent night! Holy night!
Long we hoped that He might,
As our Lord, free us of wrath,
Since times of our fathers He hath
Promised to spare all mankind!
Promised to spare all mankind!
6. Silent night! Holy night!
Shepherds first see the sight.
Told by angelic Alleluia,
Sounding everywhere, both near and far:
“Christ the Savior is here!”
“Christ the Savior is here!”
(Rút ngắn và thay đổi phần nào Lời và Nhạc)
1. Silent night, holy night
All is calm, all is bright
‘Round yon virgin mother and child
Holy infant, so tender and mild
Sleep in heavenly peace …
Sleep in heavenly peace.
2. Silent night, holy night,
Shepherds quake at the sight.
Glories stream from heaven afar,
Heav’nly hosts sing Alleluia;
Christ the Savior is born;
Christ the Savior is born.
3. Silent night, holy night,
Son of God, love’s pure light.
Radiant beams from thy holy face,
With the dawn of redeeming grace,
Jesus, Lord, at thy birth;
Jesus, Lord, at thy birth.
(Nhạc sĩ Hùng Lân)
1. Đêm thánh vô cùng, giây phút tưng bừng,
đất với trời xe chữ đồng.
Đêm nay Chúa Con thần thánh tôn thờ.
Canh khuya Giáng sinh trong chốn hang lừa.
Ơn châu báu không bờ bến,
biết tìm kiếm của chi đền.
2. Ôi Chúa Thiên đàng, cảm mến cơ hàn.
Nhắp chén phiền,
vương phong trần.
Than ôi Chúa thương người đến quên mình,
bơ vơ chốn quê nhà lúc sinh thành.
Ai đang sống trong lạc thú,
nhớ rằng Chúa đang đền bù.
3. Tinh tú trên trời, sông núi trên đời.
Với Thánh thần mau kết lời,
cao rao hóa công đã khéo an bài.
Sai con hiến thân để cứu nhân loại,
hang chiên máng rêu tạm trú,
bốn bề tuyết sương mịt mù.
Silent Night - Original Version
✝ Nguồn gốc bài thánh ca “Stille Nacht”
Có lẽ nhiều người trong chúng ta đã ít nhiều đều biết nguồn gốc bài thánh ca bất hủ tiếng Đức: Stille Nacht, heilige Nacht và cũng không ít người trong các bạn không có dịp tìm hiểu hoặc quan tâm đến bài hát. Mặc dù có nhiều câu chuyện pha trộn và giai thoại phát sinh khi bài Stille Nacht (Silent Night) vượt biên giới Áo quốc lan truyền khắp thế giới với bản dịch của hơn 140 ngôn ngữ, chưa tính hơn 100 thổ ngữ khác nhau và vẫn còn tiếp tục, nguồn gốc bài thánh ca có tuổi đời đến nay đúng 111 năm này tính từ đêm đầu tiên ngày 24 tháng 12 năm 1818.
Tại ngôi giáo đường Thánh Nicholas bé nhỏ ở làng quê Oberndorf hẻo lánh, đàn Organ nhà thờ mới được phát hiện bị hư và vì thợ sửa đàn ở rất xa khu làng nên không thể có chuyện sửa ngay. Thực tế, không có chứng cứ cho thấy động cơ và hoàn cảnh ra đời của bài hát; nhưng trong các giai thoại bao quanh thì giả thuyết đàn organ hư khá thuyết phục. Để hiểu rõ tầm mức nguy biến của sự hư hỏng đột xuất này, chúng ta dừng lại một tí bên lề để chú ý hai điều quan trọng như sau:
* Đêm 24 tháng 12 hàng năm được chọn, theo truyền thống Kitô giáo, làm ngày lễ nửa đêm đón mừng hài nhi Giêsu (còn được gọi là Giêsu Kitô – Jesus Christ /,dʒi:zəs ‘kraɪst/) ra đời. Nước Áo cũng thuộc các quốc gia có nền văn minh Kitô nên ngày này cũng sẽ là ngày trọng đại đứng hàng thứ hai sau lễ Phục Sinh buộc phải làm lễ về đêm.
* Bất kỳ ngày lễ lớn hay nhỏ trong Kitô giáo đều phải có nhạc. Cũng giống như Ánh sáng luôn là biểu tượng cần thiết trong tất cả các buổi lễ của cộng đoàn Kitô hữu, Nhạc cũng là yếu tố không thể thiếu trong bất kỳ lễ phụng vụ nào dù lớn hay nhỏ.
Vì thế sự kiện đàn Organ hư đúng ngày lễ lớn sắp diễn ra trong đêm cùng ngày là một tai biến không thể chấp nhận được. Và cũng chính vì vậy mà linh mục phó xứ nhà thờ St Nicholas phải tức tốc giải quyết ngay bằng mọi giá cho có được tiếng đàn nhạc để cộng đoàn cùng hát trong buổi lễ Misa đêm 24 ấy. Nếu giả thiết đàn hư là đúng thực thì cũng không ai biết động cơ nào khiến cha Joseph Mohr (1792 – 1848) không sử dụng bất kỳ thánh ca nào đang có tại nhà thờ lúc bấy giờ mà lại nghĩ tới bài thơ mình làm cách đấy hai năm khi được bổ nhiệm phụ tá giáo xứ ở quê nhà Mariapfarr trước khi được chuyển về Oberndorf năm 1817.
Người ta kể rằng Cha phó xứ về lấy lời bài hát đi qua nhờ thầy giáo làng cạnh bên Franz Xaver Gruber, bạn mình, phổ nhạc cấp tốc cho đàn guitar và chỉ được soạn trong vài tiếng đồng hồ để còn kịp tập cho ca đoàn giáo xứ hợp xướng hai câu cuối của mỗi đoạn tứ tấu.
Thế là, theo lời của Bill Egan – chuyên nghiên cứu về Giáng Sinh – năm 1818 bài thánh ca “Stille Nacht! Heilige Nacht” (Silent night! Holy night – Đêm yên lành! Đêm thánh) được trổi lên lần đầu tiên tại nhà thờ làng quê Oberndorf, nước Áo. Cộng đoàn tham dự thánh lễ nửa đêm tại nhà thờ Thánh Nicholas nghe giọng hát của linh mục phụ tá, cha Joseph Mohr, và nhạc trưởng ca đoàn Franz Xaver Gruber vang lên khắp giáo đường với tiếng đệm Tây ban cầm của chính cha Mohr. Ca đoàn hát hòa âm bốn bè lặp lại hai dòng cuối của mỗi đoạn.
Từ đêm Giáng sinh này, bài hát đã cất cánh bay vào tâm hồn nhân loại trên khắp thế giới. Bài hát đã được dịch ra hàng trăm thứ tiếng và đã được hát vang hàng bao triệu lần vào tháng 12 hàng năm, từ những giáo đường nhỏ trong dãy núi Andes (Nam Mỹ) đến các nhà thờ Chính tòa nguy nga tại Antwerp (thành phố đô thị của Bỉ) và La Mã (nơi tập trung của các đại thánh đường).
(In 1818 the carol “Stille Nacht! Heilige Nacht” was heard for the first time in a village church in Oberndorf, Austria. The congregation at that Midnight Mass in St. Nicholas Church listened as the voices of the assistant pastor, Father Joseph Mohr, and the choir director, Franz Xaver Gruber, rang through the church to the accompaniment of Father Mohr’s guitar. On each of the six verses, the choir repeated the last two lines in four-part harmony. On that Christmas Eve, a song was born that would wing its way into the hearts of people throughout the world. Now translated into hundreds of languages, it is sung by untold millions every December from small chapels in the Andes to great cathedrals in Antwerp and Rome – http://www.silentnight.web.za/history/text06.htm)
Cả hai linh mục thi sĩ cũng như nhạc trưởng Gruber đều không thể tưởng tượng sức bật của một bài hát vốn được soạn chỉ nhằm “chữa cháy” tình hình, được đặt lời không liên quan tới sự kiện của chính ngày Giáng sinh năm ấy, và khuôn nhạc được soạn bởi một nhạc sĩ phong cầm mà danh tiếng chỉ được biết quanh quanh ngôi làng mà thôi.
Ngoài cha Mohr bắt giọng tenor, Gruber giọng trầm bass, số ca đoàn còn lại, theo lời của Gruber, chủ lực gồm những người lao động, đóng tàu thuyền cùng các thành viên gia đình. Mặc dù chưa có bằng chứng xác nhận con đường dẫn đưa bài thánh ca sau đêm đầu tiên ấy đến thung lũng Zillertal, song theo nhiều tài liệu và đặc biệt qua chứng từ “Authentic Reason” của thầy giáo kiêm nhạc sĩ Franz Xaver Gruber thì chính Karl Mauracher chuyên gia chế lắp và sửa chữa đàn phong cầm đã tới Oberndorf từ năm 1821 đến 1825 để sửa đàn organ hư của nhà thờ.
Tháng 1-1824, Mauracher xuất hóa đơn dự kiến tổng số tiền sửa đàn trong giai đoạn ấy. Song sự kiện này không phủ định được khả năng thợ phong cầm cũng có mặt tại Oberndorf (nơi ở của cha Mohr) và/hoặc Amsdorf (nơi cư ngụ của Gruber) từ năm 1819 và có được tờ sao bản nhạc mang theo bên mình. Ngày 22 tháng 07 năm 1819, người ta thấy tên bài hát nằm trong tập nhạc Thánh ca do nhạc sĩ phong cầm đồng thời là thầy giáo Blasius Wimmer tại Tirol soạn.
Việc này cũng được hiểu do sự lan truyền từ Mauracher trên con đường theo hướng Bắc từ các thôn quanh Salzburg về nhà. Nơi sinh sống của Mauracher là khu thung lũng Ziller (Zillertal Valley) thuộc vùng núi Tyrol vốn có nhiều ca đoàn viên lưu diễn khắp Châu Âu. Thế là bài thánh ca mộc mạc bắt đầu đi theo chuyến hành trình của Mauracher đến các thành viên ca đoàn tại Zillertal trải khắp đó đây, dần trở thành bài dân ca của làng Tyrol (Tyrolean Folk Song), bước vào Châu Âu, lan qua châu Mỹ và từ đó vòng quanh thế giới.
Năm 1819, “Stille Nacht! Heilige Nacht” được nhóm Rainer Family Singers hát trong nhà thờ giáo xứ Fügen ở Zillertal. Năm 1822, cũng chính nhóm Rainer Singers trình bày bài thánh ca mộc mạc này nơi lâu đài bá tước Dönhoff (nay là “lâu đài Bubenberg” Fügen) nhân chuyến viếng thăm của hoàng đế Franz I và Sa hoàng Nga Alexander I.
Hơn nữa, nhóm nghệ sĩ gia đình này sau một vòng Châu Âu đã làm một chuyến lưu diễn sang Mỹ quốc (1839–1843) và lần đầu tiên hát “Stille Nacht” vào ngày Giáng Sinh năm 1839 trên đất Mỹ, tại Đài Tưởng Niệm Alexander Hamilton bên ngoài nhà thờ Chúa Ba Ngôi ở New York.
Ngoài nhóm Rainer lưu truyền bản thánh ca bình an, dịu êm, tờ báo “Leipziger Tagblatt” còn nhắc tới nhóm Strasser (cũng thuộc vùng thung lũng Zillertal) như sau: “Buổi nhạc của nhóm Huynh đệ Strasser ngày 15 tháng 12, 1832… Các ca sĩ cũng thực hiện mong muốn bày tỏ trên các trang giấy này hát bài thánh ca tuyệt đẹp ‘Silent Night! Holy Night!’”.
Tờ báo tung ra lời mong ước hát bài thánh ca như thế trước buổi hòa nhạc chứng tỏ bài hát đã nổi tiếng nhiều ở Leipzig, có thể bài hát đã được biết đến từ năm trước đấy.
Sau lần biểu diễn đó, khoảng năm 1833, nhà xuất bản A. R. Friese (ở cả thành phố Dresden và Leipzig) cho xuất bản in đầu tiên. Tuy nhiên bài thánh ca “Silent Night” giới thiệu trong tập nhạc không đề cập gì tới tác giả và có thay đổi lời và nhạc.
Một bài hát hay tác phẩm nào một khi bắt đầu có tiếng vang lan truyền và được yêu thích rộng rãi sẽ tất yếu nảy sinh các thêm thắt giai thoại, thay đổi hay mạo nhận. Bài thánh ca mang đầy âm tiết thanh thoát này cũng không thoát được tình huống ấy. Có hàng ngàn lời đồn đại đủ dạng loại: lãng mạn, ly kỳ, thiện tâm, ác ý, v.v.
Và quy luật tự nhiên trong lịch sử nhân loại vẫn cho thấy một khi có những khác thường xuất hiện tất yếu làm nảy sinh công cuộc truy tìm sự thật. Và thế là cuộc tranh cãi bắt đầu nổ ra từ khi bài thánh ca vòng quanh châu Âu, kéo dài cả trăm năm mãi cho tới thế kỷ 19 vẫn còn cho đến khi bắt đầu tìm thấy các chứng cứ xác nhận câu chuyện đúng như trên.
Một trong các công trình tỉ mỉ nhất phải kể đến Bill Egan, phóng viên nhiếp ảnh về hưu thuộc Hải quân Mỹ, chuyên viết thường trực cho Tạp chí Christmas và chịu trách nhiệm cung cấp công trình nghiên cứu về Giáng sinh cho chương trình bình luận trong Hồ sơ Charles Osgood (Charles Osgood File) trên đài phát thanh toàn cầu CBS.
Ông đã đi thăm nhiều địa điểm liên quan đến bài hát “Stille Nacht” để nghiên cứu lịch sử của bài thánh ca nổi tiếng thế giới này cho Cơ quan du lịch Quốc gia Áo (ANTO) và Cơ quan Thông tin của Áo. Có thể đọc cặn kẽ các chi tiết có liên quan đến sự kiện bài “Silent Night” tại chuyên trang của ông.
Giữa thế kỷ 19 khi bản thánh ca đã trở nên phổ biến lưu truyền nhưng không thấy quyền tác giả. Để xác định tác giả thực của bài thánh ca, Nguyện đường hoàng gia Phổ liên lạc với chủng viện Benedictine ở Salzburg hỏi thăm tên tác giả.
Năm 1854, biết được thông tin này, Franz Gruber viết và gửi đi tài liệu hai trang giấy có tựa đề: “Sự kiện đích thực của việc soạn nhạc bài ca Giáng sinh ‘Đêm yên lành, Đêm Thánh’” (Authentic Reason for the Composition of the Christmas Song ‘Silent Night, Holy Night’) kể lại vắn tắt cội nguồn của tác phẩm và nêu đích danh ông và cha Mohr là đồng tác giả của bài Thánh ca.
Cho dù có sự minh chính của Gruber lên các vị chức sắc nhưng nhiều nhà xuất bản vẫn cứ tin rằng “Silent Night, Holy Night” hẳn chỉ có thể là tác phẩm của các nhạc sĩ thiên tài Haydn, Mozart hay Beethoven. Lời khẳng định này kéo dài suốt từ ấy đến tận thế kỷ 20 và chỉ tắt nghẽn khi một bản thảo viết tay của cha Mohr được khám phá năm 1995.
Trên bản thảo này, các nhà nghiên cứu ghi ngày tháng khoảng năm 1820 và ở một góc trái ghi rõ: “Giai điệu nhạc do Fr. Xav. Gruber biên soạn”.
Giai điệu nhạc do Fr. Xav. Gruber biên soạn.
Silent Night Chapel - original picture
Nhờ bản thảo viết tay duy nhất còn tồn tại này mà câu chuyện đơn giản và rõ ràng hiện ra: cha Mohr viết lời năm 1816 tại Mariapfarr và Gruber soạn nhạc năm 1818.
Bài hát vốn đã bị thay đổi phần nào cả lời và nhạc khi nhóm Rainer Singers lưu diễn. Sau đó vào năm 1849, lời bài hát được J. F. Warner dịch với lời tựa: “Silent Night! Hallowed Night!” (trang 373 trong tập nhạc “The Devotional Harmonist” do Charles Dingley phát hành năm 1851).
Tiếp sau đó có bản dịch tựa đề “Stilly Night, Holy Night,” của Emily Elizabeth Steele Elliott (1836–1897) tự in năm 1858. Đáng kể nhất là bản dịch 3 đoạn “Silent Night, Holy Night” của Giám mục John Freeman Young (1820–1885) năm 1859 được sử dụng rộng rãi tới ngày nay.
Cũng chính bản dịch này đã góp phần đưa bài thánh ca lan qua các đại thánh đường Mỹ quốc, sang nước Úc, New Zealand, Vương quốc Anh tới tận các giáo đường nhỏ xa xôi của Nam Phi, Sierra Leone, Guam và Jamaica.
Thực ra điều kỳ diệu của bài hát, đối với chúng ta, không phải chỉ là sức lan truyền như vũ bão của một bài hát điệu đàn đơn sơ, một tác phẩm khởi động từ những hoàn cảnh và con người hết sức tầm thường nhỏ bé nhưng đầy nhiệt huyết phục vụ cho cộng đoàn một cách vô vị lợi.
Điều kỳ diệu chúng ta chứng kiến còn chính là từ trong trái tim sâu lắng của mỗi con người trong cuộc sống vẫn luôn đón nhận những giá trị chân chất, những thanh thoát tình người.
Bài hát đã chinh phục từ vua tới dân, từ những bậc uyên thâm đến những chân tình mộc mạc đã cho thấy tính hướng thiện luôn luôn hiện diện trong mỗi người chúng ta và thúc đẩy con người tôn vinh và công nhận tình yêu như một chân lý của chính mình.
Chính thiện tâm của con người đã đưa bài hát dung dị ấy lan truyền trong nhau từ thế hệ này sang thế hệ khác. Cũng chính thiện tâm đón nhận tình yêu vô biên mà những nhà thông thái, các khoa học gia cùng hàng tỷ người đã quỳ xuống trước cây thập giá thần phục một con người “kỳ quái”.
Trong bốn mùa thì mùa Đông là mùa của ngủ yên, của cay nghiệt và chết chóc – Giêsu đã sinh ra trong mùa đông giá lạnh, trong thời điểm rong ruổi đường xa tăm tắp, trong đêm khuya vắng lặng, trong máng cỏ bò lừa hôi hám và bị truy lùng khi chưa kịp lên hai và cuối cùng chấp nhận án tử hình nặng nhất của thế giới sự ác.
Song cũng chính cái đêm đông giá lạnh ấy đã được thế giới con người thiện tâm đón nhận để nhân giống, để đóng “cái tôi” của mình lên thập giá và làm men cho tình yêu thương trổi dậy trên hành tinh xanh của chúng ta.
Cho đến nay, ngoài trên dưới 300 ngôn ngữ các loại dành cho bài thánh ca “Silent Night”, bản tiếng Anh thông dụng phổ biến còn được cải biên hàng trăm phiên bản và thể loại khác nhau.
Chỉ một điều chung là những ai đón nhận bài hát cho dù ở thể loại nào đều hiểu rằng khi cất lên tiếng hát chính là nói lên lời chào đón gương mặt an bình trong sáng của hài nhi trong lòng mẹ và hài nhi đang được chờ đón cùng với ánh sáng tinh tú trời cao đem đến thanh bình trong tin yêu của nhân loại.
Nguồn tham khảo